Chân dung Văn nghệ sĩ Tiền Giang:
Mai Văn Ngọc - vị chí sĩ lừng danh khắp Nam Bắc
(Thứ tư 25/04/2007, 09:42)
 
Nhà yêu nước Nguyễn An Ninh cùng hoạt động với cụ Mai Văn Ngọc (Anh TL)
(CAO) Khi thực dân Pháp đã chiếm trọn 6 tỉnh Nam kỳ, tuy các lực lượng kháng chiến dần dần suy yếu, nhưng sĩ phu Đồng Nai một phần lớn đều biết giữ gìn tiết tháo, sống đời ẩn dật để mong đợi một thời cơ quật khởi. Riêng tỉnh Định Tường, khi bị thất thủ nhưng những nhân vật ở ẩn đáng ca ngợi, gồm có cụ Đồ Chiểu, Nhiêu Phang (Mai Đăng Phương), Nhiêu Tâm (Đỗ Minh Giám hay Đỗ Minh Tâm) v.v… Về sau, lại nổi bật một vị chí sĩ Mai Văn Ngọc, người quê Vĩnh Kim, Châu Thành, Mỹ Tho (nay là Tiền Giang) phẩm cách và học hạnh tuyệt vời trong sáng, rất đáng đề cao.
 
Trong tuần báo “Hòa đồng” số 68, ngày 14-5-66, học giả Hồ Hữu Tường viết về Mai Văn Ngọc như sau:

“Cha mẹ của Ngọc là ai, thật ra không có ai được rõ. Khi Ngọc còn là xích tử, thì có một người đàn bà ẵm Ngọc đến một nhà có của, họ Mai, mà cho. Không biết người đàn bà ấy có phải là mẹ của đứa bé không, nhưng lại dặn rằng họ Mai nên nuôi nấng tử tế, ngày sau sẽ không nhiều thì ít, làm rỡ danh cho họ Mai.

Họ Mai chưa có con, bèn nhận trẻ ấy làm đứa con đầu lòng và sau này, thiên hạ gọi là Hai Ngọc. Lớn lên, Ngọc thông minh dĩnh ngộ, học chỉ chữ Hán, mà Hán học của Ngọc lừng lẫy từ Bắc chí Nam. Các bậc thâm nho trong xứ đều đồng ý mà cho rằng Ngọc xứng đáng đứng đầu… nếu người Nam kỳ (lúc ấy đã thuộc Pháp rồi) được phép dự thi. Danh tiếng ấy đến tai bà sương phụ Nguyệt Anh, một nữ sĩ cùng nổi tiếng khắp nơi, vì là con gái của cụ Đồ Nguyễn Đình Chiểu một phần nhỏ thôi, mà vì văn thơ và sĩ khí của bà làm cho ai cũng phải công nhận là có tài và có đức hơn hết trong giới nữ lưu. Sương Nguyệt Anh gọi Ngọc đến mà gả cho đứa con một, để cho được rể kỳ tài, ương giống quý để có cháu ngoại hay.

Từ khi có vợ, Mai Văn Ngọc tự mình học chữ Pháp, học từ ngữ, văn phạm, học kết câu. Trong mấy năm, rành tiếng Pháp, nói tuy đớ giọng và không mau, nhưng khi viết văn thì rất hay, một cử nhân văn chương Pháp chưa dễ qua mặt nổi. Bởi học giỏi như vậy, mà khắp xứ đều gọi tặng là thầy, mặc dầu không mở lớp, nhận học trò.

Phật, Lão, Trang, Khổng, Mạnh, bách gia chư tử của phương Đông, các triết gia cổ kim của phương Tây, Mai Văn Ngọc thảy đều rành. Khi Phạm Quỳnh lãnh lịnh của toàn quyền Albert Sarraut để tổ chức tạp chí “Nam Phong”, thì Phạm Quỳnh dự tính để ở ngôi giám đốc tạp chí một người mà học thuật Đông Tây thảy làm cho cả nước kính nể. Cho nên, Phạm Quỳnh từ Hà Nội vào Nam, có ý muốn mời Mai Văn Ngọc nhận ngôi giám đốc tạp chí Nam Phong ấy. Trong quyển “Một tháng ở Nam kỳ”, người ẩn sĩ mà Phạm Quỳnh tả với bao nhiêu sự kính nể, nhưng không viết tên ra, người ấy chính là Mai Văn Ngọc…”.

Xuyên qua những lời của Hồ Hữu Tường nói về Mai Văn Ngọc trên đây, chúng ta đủ thấy tài học về phẩm hạnh của ông như thế nào. Tài cao, học rộng nhưng trọn đời ông không màng tưởng đến công danh chi cả, sống đạm bạc, bình dị, dưỡng chí tu tâm.

Ông được Nguyễn An Ninh rất quý mến. Có lần, Nguyễn An Ninh hỏi ông về cảm nghĩ đối với các nhà tư tưởng cổ kim Đông Tây, ông viết trao cho Nguyễn An Ninh 4 câu:

Thế sự bổn vô chân, ác, mỹ
Nhân sanh đồ tự vọng tham ô
Nhược giao đạo đức tùy nhân tạo
Tranh chấp tùng tư hữu sở do.

Xem xong 4 câu trên, Nguyễn An Ninh càng thêm kính phục ông. Học giả Hồ Hữu Tường phê bình tuyệt diệu: “Chỉ trong 28 chữ, mà duy tâm, duy vật thảy bị vượt qua, ba vấn đề chân thiện, mỹ mất giá trị tuyệt đối và nền tảng chắc chắn của nhân bản được đặt”.

Bà Sương Nguyệt Anh tấm gương tiết hạnh (Tranh Bé Ký)
Như chúng ta đã biết, ông được bà Sương Nguyệt Anh (con gái cụ Đồ Chiểu) chọn là rể quý. Nhưng đường nhân duyên của ông ngắn ngủi, vợ ông - bà Nguyễn Thị Vinh, ba ngày sau khi sinh con gái là Mai Huỳnh Hoa, cô Vinh qua đời, để lại một gái là Mai Huỳnh Hoa (tức sau này là bà Phan Văn Hùm). Thấy Mai Văn Ngọc tám năm chưa tục huyền, mẹ vợ - bà Sương Nguyệt Anh khuyên:

“Có lúc tòng quyền, có lúc kinh
Làm trai nào ắt khỏi tiền trình
Bơ thờ nắng rọi hoa nghiêng nhụy
Lay lắt mưa qua bướm giấu hình
Ngửa mặt đành cam con thất hiếu
Nghiêng tai luống chịu quỷ vô tình
Dưới đời ai dứt đường sinh hóa
Trướng chấu riêng ngươi quạnh một mình”.

Chúng ta có thể nhận xét không sợ lầm: “Sự nghiệp cách mạng của Nguyễn An Ninh và Phan Văn Hùm, một phần lớn do ảnh hưởng tinh thần cao khiết của Mai Văn Ngọc. Mỹ Tho có được một vị ẩn sĩ lừng danh như Mai Văn Ngọc, thêm vẻ vang cho đất Định Tường ngày trước biết bao”.

Trong cuốn: Nguyễn An Ninh “Tôi chỉ làm cơn gió thổi” của Nguyễn Thị Minh (con gái chí sĩ Nguyễn An Ninh), nhà xuất bản Trẻ 2005” có đoạn viết:

“Nghe tin cụ Phan (Châu Trinh) về Hóc Môn ở nhà của Nguyễn An Ninh, đồng bào lục tỉnh kéo lên thăm, còn đồng bào Sài Gòn ngày nào cũng đến, bạn bè cụ ở miền Trung cũng vào song các cụ từ quê vào thăm cũng có mặt khách nườm nượp, ba tôi nếu có ở nhà tiếp khách đỡ cụ, khi cụ mệt, ông nội tôi lúc này già yếu, chỉ ngồi dịch tự điển Khang Hi, cũng tiếp khách thay cụ. Thấy cụ ốm đau đồng bào cho tiền để cụ thuốc thang nhưng cụ từ chối.

Có lẽ người bận rộn nhất lá má tôi và sung sướng nhất cũng là má. Má tôi đã dành niềm hạnh phúc bất ngờ cho ba tôi, gần mười mẫu vườn lúc đi còn hoang phế, giờ về đã có đủ loại cây ăn quả mới trồng, nhà cửa tươm tất, ông nội thì phấn khởi khen con dâu hết lời. Ba tôi không ngờ ông lại có diễm phúc đến như vậy, giờ đây giữa sự nghiệp và gia đình ông không có điều gì phải băn khoăn nữa.

Trong lúc chờ sức khỏe cụ Phan khá lên ba tôi cũng dự kiến tiến hành kế hoạch tổ chức quần chúng mà ba tôi đã làm thử cuối năm 1924. Kế hoạch này có hai phần: phần công khai và phần bí mật.

Phần công khai, với uy tín cụ Phan sẽ:

 - Tổ chức để cụ Phan nói chuyện với đồng bào Sài Gòn, thông qua cụ đồng bào thấy một tấm gương lớn của một nhà ái quốc suốt đời chỉ lo hoạt động cho dân cho nước.

 - Cụ sẽ họp mặt với các nhà điền chủ lớn mà ba tôi quen biết, vận động đóng góp tiền cho tục bản tờ La Cloche Fêlée.

Hai mũi hoạt động công khai này tập trung sự chú ý của mật thám. Song song với hai mũi này ba tôi sẽ tiến hành mũi thứ ba bí mật: thành lập Tổ chức Thanh niên Cao vọng. Công việc này hệ trọng, tốn nhiều công sức, thời gian phải hai ba năm và phải có những người bạn tâm huyết với ba tôi. Ba tôi suy nghĩ suốt mấy tháng qua, trong số bạn bè thân có bác Huỳnh Đình Điển, bác Khánh Ký thương ba tôi như em ruột, là hai cây cột mạnh thường quân, việc này nếu sơ hở để ngồi tù thì dở dang công việc làm ăn đang phát đạt của hai bác. Còn Trần Huy Liệu, Phan Văn Hùm đều mến mộ ba tôi là thầy, là người anh thần tượng. Chú Liệu là nhà báo đang phải kiếm sống. Chỉ có Phan Văn Hùm, hiện đang chán làm công chức, ở nhà nghiên cứu đọc sách và dự kiến sang Pháp tiếp tục học. Chú Hùm đang sống với cha là chủ một trại cưa lớn giàu có ở Tân Uyên, tánh chú lại kín đáo và rất hợp với ba tôi trong tranh luận bàn bạc. Ba tôi lên gặp chú Hùm:

 - Hùm có thể hợp lực cùng Ninh làm một việc quan trọng?

 - Bất cứ việc gì Ninh cần Hùm đều muốn san sẻ.

 - Kể cả dám sống chết cùng nhau? 

 - Kể cả sanh mạng vì Hùm biết Ninh vì nước vì dân.

 - Trước hết hai đứa mình xin yết kiến một người!

 - Ai vậy?

 - Mai Văn Ngọc.

 - Người đó Hùm luôn hâm mộ.

Mai Văn Ngọc là một nhà yêu nước, một bác học giỏi Hán học và Tây học. Một thuở tiếng tăm ông vang lừng cả nước, ông là học giả uyên thâm số một của Nam Kỳ, vì vậy mà bà Sương Nguyệt Anh đã chọn ông làm rể, gả người con gái duy nhất cho ông. Là nhà trí thức nhưng ông chán cảnh quan trường, lui về ẩn dật ở chợ Giữa, Vĩnh Kim tỉnh Mỹ Tho. Vợ mất, ông lấy người vợ kế là chị bà con bạn dì với chú Nguyễn Văn Nguyễn. Nhà nước nhiều lần mời ông ra làm quan ông đều cự tuyệt. Phạm Quỳnh cất công từ Bắc vào mời ông cộng tác làm báo ông từ chối. Một nhà ái quốc chân chính!

Vậy mà khi Ninh, Hùm xin gặp, ông vội vàng ra đón tiếp và mở lời trước:

 - Ai chớ ông Ninh thì Ngọc này có thể tiếp chuyện cả ngày.

Ông Ngọc đưa mắt về phía Hùm, ba tôi giới thiệu:

 - Đây là Phan Văn Hùm, người cùng chí hướng

(Lúc này chú Hùm chưa phải là trốt-kít - Một trào lưu đòi xét lại chủ nghĩa Mác-Lênin-NV).

Ba tôi phân vân chưa biết gọi ông là gì. Về tuổi ông cũng hàng cha chú, nhưng thấy cách xưng hô và nói năng của ông quá cởi mở, thân tình như người bạn đã thân lâu, không giống phong cách của ông nội, của cụ Phan ở hàng bề trên. Ông Ngọc đoán biết nên gợi ý:

 - Mình gọi nhau bằng tên và “toi, moi” cho thân mật, đừng khách sáo làm gì! Ninh cất công xuống đây chắc phải là chuyện hệ trọng

 - Tôi muốn mời ông gây dựng một tổ chức cách mạng.

 - Ninh hãy cho biết vì sao phải có tổ chức đó và mục tiêu của nó.

 - Thời gian tôi du học bên Pháp lúc đó có ba nhà cách mạng: Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc. Họ hoạt động ở Pháp lâu, muốn dẫn dắt dân mình làm cách mạng đánh đổ thực dân nhưng hướng hoạt động thì chưa có lối ra. Trong ba người cách mạng này tôi phục Nguyễn Ái Quốc hơn.

Qua nghiên cứu tôi thấy Nguyễn Ái Quốc đứng hẳn về phía Quốc tế Cộng sản là đúng. Lênin chủ trương vô sản các nước phải đoàn kết với tất cả các dân tộc bị áp bức chứ không chỉ riêng giai cấp vô sản; kêu gọi các Đảng Cộng sản phải quan tâm giúp đỡ các phong trào giải phóng dân tộc. Lần đầu tiên một cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo thành công, xóa bỏ hoàn toàn bọn tư bản luôn luôn cấu kết với đế quốc để xâm lấn thuộc địa. Theo anh Quốc: “Muốn tiến hành cách mạng ở Việt Nam có hai vấn đề có tính quyết định: giác ngộ quần chúng và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Nguyễn Ái Quốc đã sang Nga học kinh nghiệm để về Việt Nam thành lập Đảng. Tôi quyết định bỏ học về nước hoạt động, làm sao để giác ngộ và dẫn dắt quần chúng. Ra báo La Cloche Fêlée chỉ là bước đầu tuyên truyền thức tỉnh đồng bào thấy rõ tội ác và chính sách cai trị ngu dân của bọn thực dân. Việc vận động tổ chức quần chúng lại mới là bước quan trọng. Việc này phải làm từng bước và phải có thời gian.

Bước đầu mình chọn lựa vài chục người là trí thức nông thôn như thầy giáo hay trong Hội đồng Xã có tinh thần yêu nước, để bồi dưỡng họ làm hạt nhân giác ngộ lại quần chúng khác. Mình làm các vùng lân cận như Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh trước rồi tỏa dần xuống lục tỉnh.

Bước thứ hai mình mở lớp dạy từ trình độ thấp lên cao: văn hóa, lịch sử Việt Nam, Cách mạng vô sản Nga, ABC Chủ nghĩa Cộng sản. Anh em có trình độ khá hơn sẽ đưa sách cho họ nghiên cứu, sẽ in tài liệu phát cho họ.

Bước sau đó mình sẽ hướng dẫn quần chúng đấu tranh từ thấp lên cao, từ chống thuế đòi dân chủ dân sinh đến mít-tinh biểu tình đình công. Khi có Đảng Cộng sản, họ là lực lượng quần chúng cho Đảng tuyển chọn.

Tóm lại mục đích của tổ chức yêu nước này chỉ có vậy. Đây là phác thảo buổi gặp mặt đầu tiên để cho ông Ngọc và Hùm suy nghĩ thêm. Những lần sau mình sẽ bàn chi tiết hơn về tổ chức này. Điểm gặp của chúng mình phải thật an toàn. Nhà của tôi an toàn lắm, mật thám không dám bén mãng, nhưng lúc này có cụ Phan về thành thử lúc nào cũng đông khách mà tôi biết có tụi mật thám nữa, nó giả danh anh em mình nhưng hoạt động cho phòng nhì”.

Sẵn chuyến đi ba tôi đem cho ông Ngọc ít sách nghiên cứu. Còn chú Hùm, ba tôi bảo lên nhà ở Hóc Môn đọc. Sách nghiên cứu cho ông Ngọc là cương lĩnh của Đảng Cộng sản, là luận cương Lê-nin, quyển “Làm gì?” của Lê-nin.

Từ hôm ấy, ba người trở thành những người bạn tâm huyết. Tuổi ông Ngọc tuy cao nhưng với hai người bạn trẻ ông vẫn gọi tên Ninh – Hùm hoặc ông Ninh ông Hùm. Và qua Ninh, Ngọc, Hùm đều tôn sùng Nguyễn Ái Quốc. Sau này, năm 1930, Mai Văn Ngọc đã đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng sản.

Ngày ấy Sài Gòn – Mỹ Tho đi xe lửa chỉ hơn ba tiếng đồng hồ. Cũng từ hôm ấy, ông Mai Văn Ngọc thỉnh thoảng vắng nhà vài bữa nói là đi thăm bạn để đổi gió vì ở chợ Giữa ồn ào. Vài tháng sau ông bán nhà ở chợ Giữa mua nhà khác ở Xóm Dầu, bên bờ của nhánh sông Tiền, ngôi nhà ở cạnh khu nghĩa địa, nhà cửa thưa thớt, ai lạ đến thì người trong xóm biết liền.

Sức khỏe cụ Phan khá dần, da dẻ đã hồng hào, đi lại không cần người đỡ, nhưng ngủ ít. Cụ và ông nội tôi, trời chưa sáng, bà con chưa ra ruộng đã dậy uống trà râm ran câu chuyện. Cụ ăn cũng khá hơn, ngày ba bữa lưng chén. Má tôi bảo, lúc mới lên nhà cụ không ăn uống gì, má tôi phải làm gà ác, mỗi lần mấy con, hầm cho mềm nước cô lại, ông nội tôi ép cụ uống. Khi ăn được má tôi mới làm thức ăn, cụ khen má tôi nấu ăn ngon, suốt thời gian sống xứ người ăn uống cho qua ngày đã bào mòn sức lực cộng với bao lần tù tội vì dân vì nước, mà trông cụ già hẳn đi, tuy cụ mới 53 tuổi. Khi cụ đi lại nhanh nhẹn, ba tôi tổ chức để cụ đi một chuyến xuống Ba Động Trà Vinh với mục đích:

- Tục bản tờ báo La Cloche Fêlée, có nhà in riêng.

- Mở một trường dân lập lớn.

- Mở một hội quán làm diễn đàn và nơi tụ họp của những người yêu nước.

Việc ra lại La Cloche Fêlée vô cùng thuận lợi. Ông Nguyễn Huỳnh Điểu là em ruột của nhà điền chủ nổi tiếng giàu có Nguyễn Phước Hượt ở Trà Vinh, ruộng cò bay thẳng cánh cộng thêm hãng xe vận tải. Ông Điểu có 3 anh em đều giàu có, vào dân Tây, ông quý ba tôi lắm, ông sẵn sàng bỏ tiền để lập một nhà in riêng cho tờ báo. Ba tôi được phân công thực hiện điều này.

Còn việc mở trường dân lập lớn cũng thuận lợi. Lúc đó ở Nam Kỳ chưa có trường Pétrus Ký, chỉ có trường Tây Chasseloup Laubat, trường Pétrus Ký sau vài năm mới có nhưng là trường công. Ông Đốc phủ Lê Văn Mầu hứa cho đất và tiền cất trường. Bác Nguyễn Huỳnh Điểu nhận sẽ thực hiện điều này.

Chỉ còn việc lập hội quán phải mở đợt vận động quyên góp các nhà hảo tâm ở Sài Gòn. Việc này theo ý cụ Phan giao cho Nguyễn Phan Long thực hiện.

Ba tôi bàn thêm với bác Điểu nhà in nhận in thêm các ấn phẩm khác để có đủ chi phí trang trải, nếu được, tờ La Cloche Fêlée có thể phát không cho độc giả khó khăn về tiền bạc. Ba tôi cũng nhờ bác Điểu đứng tên chủ nhiệm cho tờ báo, mọi việc ba tôi sẽ lo liệu hết, bác Điểu đồng ý.

Trở về Sài Gòn, ba tôi đưa cụ Phan đến nhà bác Huỳnh Đình Điển để bác và bác Khánh Ký chăm lo tổ chức các buổi tiếp dân, nói chuyện cho cụ như đã bàn trước đây.

Bác Tư Vân lại bỏ hết việc nhà, còn dắt theo người thợ may ruột của bác. Ba người lao vào chuẩn bị nhà in, cái khó là địa điểm. Ba tôi đến thương lượng với bác Nguyễn Háo Vĩnh thuê một phần mặt bằng để đặt máy in. Vì quý ba tôi nên bác cho mượn, bác cũng không nghĩ việc in của ba tôi sẽ cạnh tranh hoặc gây khó dễ gì cho nhà in Xưa Nay của bác cũng tại 62-64 Bonnard sắp sửa hoạt động.

Vừa mua máy mới vừa đem cái máy ở Pierre Flandin đến, nhà in bây giờ khá đồ sộ. Lần này thì không lo thiếu tiền, không lo độc giả bị khủng bố vì đặt mua báo, vì bị nhà cầm quyền giữ lại thư từ, báo, tiền của La Cloche Fêlée. Ba tôi có đông bạn bè, tổ chức màng lưới các nơi đến lấy. Lần này ba tôi có thêm hai cây bút mạnh là Mai Văn Ngọc và Phan Văn Hùm. Cố gắng ra tờ báo càng sớm càng tốt, kịp thời vạch mặt tên Varenne (Toàn quyền mới thay Toàn quyền cũ Merlin bị Phạm Hồng Thái mưu sát ở Quảng Châu), về âm mưu bắt cóc cụ Phan Bội Châu từ Thượng Hải đưa về xét xử ở Hà Nội.

Đúng lúc này ông Trường từ Bắc vào. Về quê ông bệnh đường ruột kéo dài, họ hàng giữ lại, ông sốt ruột vì chưa thực hiện được lời hứa với ba tôi, nghe tin cụ Phan về nước ông cố gắng thu xếp. Ngoài họ hàng giữ lại, bọn mật thám cũng không tha ông, ở quê mà có người lạ là biết ngay, gần đây chúng tưởng ông từ bỏ việc vào Sài Gòn. Ba tôi biết tánh ông Trường, ông là giáo sư Luật, việc theo dõi của mật thám đối với ông là vi phạm nhân quyền, là hành động ngu xuẩn thô bạo. Nhớ lúc ở Pháp, khi bác Quốc phân phối truyền đơn bị mật thám theo sát, bác Quốc đến nhà ông cũng bị liên lụy nên ông đùng đùng nổi giận, phản đối lên Bộ Thuộc địa Pháp đã cho người theo dõi, rình rập nhà ông.

Ông Trường nhận lời làm chủ nhiệm tờ báo La Cloche Fêlée, Ba tôi báo lại cho bác Nguyễn Huỳnh Điểu và cám ơn bác. Trước mắt ông Trường ở tạm nhà bác Huỳnh Đình Điển để làm bạn cụ Phan, ba tôi sẽ mướn nhà cho ông sau. Đưa ông đi xem vài chỗ đều không ưng ý, mấy tháng sau mới được một chỗ của người bạn Pháp ở đường Mac Mahon để ông vừa ở vừa làm văn phòng.

Bộ máy tòa báo vẫn như lần trước, bác Tư Vân phụ trách trị sự, ba tôi phụ trách nội dung điều hành, Dejean vẫn là quản lý giao dịch, ông Trường mới sẽ dần dần thay ba tôi phụ trách phần nội dung, để ba tôi còn lo việc khác mà ba tôi phải trực tiếp đảm đương là thành lập Tổ chức Thanh niên Cao Vọng.

Báo La Cloche Fêlée đợt hai bắt đầu từ số 20 ra ngày 26-11-1925. Lần này báo ra hai kỳ vào ngày thứ hai và thứ năm hàng tuần, vẫn bốn trang khổ lớn, số lượng lần trước là 2.000, lần này tăng lên 5.000. Con số 5.000 là khả năng tiêu thụ chắc chắn qua màng lưới. Tôn chỉ mục đích của báo không có gì thay đổi, kể cả sau này ba tôi đổi tên là báo L’Annam cũng vậy. Ý nghĩa của việc thay đổi tên báo chỉ để phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và để phục vụ cho việc đăng Tuyên ngôn Cộng sản mà thôi. Về đổi tên báo, ba tôi còn nói vui với má tôi:

“Tiếng chuông bây giờ hết rè rồi, dân chúng bây giờ đã giác ngộ để đón chờ một nước An Nam đổi mới”.

Về hình thức, tờ báo lần này có thay đổi, câu bên dưới măng sết tên tờ báo với hàng chữ “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” lấy của Mạnh Tử. Câu này viết bằng chữ Pháp để xem họ có nói gì không, đến số 26 ba tôi mới để luôn cả chữ Hán lẫn chữ Quốc ngữ, câu này sang L’Annam cũng giữ nguyên cho đến kết thúc. Dưới tên báo còn có câu chữ to: “Cơ quan tuyên truyền dân chủ”. Cái khung nhỏ bên phải dưới tên báo vẫn là Nguyễn Văn Ninh, địa chỉ liên lạc 273 đường D’Espagne là đường Lê Thánh Tôn bây giờ. Bạn bè thân thường theo dõi khung này để biết hoạt động của ba tôi có gì thay đổi, chỉ trừ lúc ngồi tù hay không có mặt ở Sài Gòn thì chỗ này mới thay tên người khác. Trên khung này, ba tôi xuất hiện thường với địa chỉ nơi giao nhận liên lạc, còn chức biên tập, giám đốc, sáng lập viên không ghi để cốt cho nhà cầm quyền nhìn khỏi gai mắt. Tôi nói rõ chỗ này vì có người lầm tưởng là tờ báo của ông Trường khi có bài của ba tôi giới thiệu ông là giám đốc chính trị.

Về nội dung, ngay số báo đầu, có bài giới thiệu ông Phan Văn Trường là chủ nhiệm chính trị, bài này để tên Dejean nhưng ba tôi viết vì Dejean mới quen ông Trường, chủ yếu giới thiệu tài năng, trình độ mọi mặt của ông Trường. Đồng thời ba tôi cũng viết một bài dưới tên Nguyễn Tịnh “Vì sao tôi trở lại vị trí của mình trên báo La Cloche Fêlée”. Bài báo có đoạn: “Chúng ta phải mò mẫm tìm cho ra để chỉ cho dân tộc thấy con đường giải phóng… Ta phải hành động… Khoanh tay chờ đợi là tự sát… Đất nước này vẫn còn đang cần những tâm hồn tự do để làm nơi nương tựa cho những người nghẹt thở trong cơn hấp hối”.

Số đầu tiên này cũng mở màn cho viêc công kích tên Toàn quyền mới sang Đông Dương nhận chức là Varenne, loạt bài này có nhiều kỳ. Do ông Trường còn đang bận, mà ba tôi đã viết sẵn rồi, sau này cả ông Trường và ba tôi cùng viết nhưng để tên ông Trường từ đầu. Ngoài bài này ba tôi còn viết bài “Triết lý con heo” đả kích Varenne và nói lên sự thất bại của chủ trương “bất bạo động” của Gandhi. Ba tôi cũng cho đăng nguyên văn quyển sách “Nước Pháp ở Đông Dương” làm nhiều kỳ. Số báo đầu tiên đã lên án kịch liệt tên cầm quyền và bộ máy cai trị. Mấy số sau còn có hai cây bút cũng sắc sảo của nhà nghiên cứu Mai Văn Ngọc và Phan Văn Hùm với các bút danh mà tôi không biết. Ngày đó viết báo nhằm mục đích đả kích, tố cáo bọn cầm quyền nên để tránh theo dõi tù tội phải có nhiều tên trên một tờ báo, thay đổi báo cũng thay luôn bút danh. Trong đời viết báo của ba tôi thì tôi được biết ông dùng hơn chục bút danh, còn viết chung với bạn bè đề tên chung hoặc để người khác đứng tên là chuyện thường xảy ra, cốt làm sao có lợi, chứ không phải khoe cho mọi người biết. Ông Mai Văn Ngọc viết cũng nhiều và còn viết cho đến khi L’Annam kết thúc nhưng luôn luôn ẩn dật, không bao giờ để lộ. Trong hồi ký của nhiều người đương thời cũng có ghi nhận điều này.

Báo La Cloche Fêlée lần này và sau này đổi tên là L’Annam ra đều đặn, chỉ nghĩ những ngày Tết, lễ, có một phần L’Annam gián đoạn do ba tôi đi Pháp. Ba tôi ở Pháp về cho ra tiếp tờ L’Annam và dự kiến một ban biên tập mới gồm Nguyễn An Ninh, Nguyễn Khánh Toàn và Nguyễn Thế Truyền. Nhưng rủi ro là bác Truyền gái bị rắn độc cắn nên sợ quá cả gia đình kéo nhau về Bắc. Ba tôi thì quá bận với tổ chức Thanh niên Cao Vọng, còn chú Nguyễn Khánh Toàn không trụ nổi vai trò chính.

Giai đoạn làm báo những năm này của ba tôi thuận lợi nhiều, nhất là khâu nhà in rất ổn định, không bị hăm dọa hay xét hỏi nhờ núp bóng nhà in của ông Nguyễn Háo Vĩnh giàu có nhiều thế lực. Sau này khi có gay cấn giữa bác Vĩnh và bác Điểu, nhà in mới tách ra làm nhà in Bảo Tồn. Cho nên toàn bộ khâu này ba tôi rất an tâm giao cho bác Tư Vân giải quyết. Chỉ có hai lần bị rắc rối từ tờ báo số 35 đến số 41, do không có trụ sở nên không có địa chỉ giao dịch vì chủ nhà 273 đường D’Espagne bị hăm dọa, mặc dù chủ nhà rất tốt. Đến số 42 mới có địa chỉ giao dịch 119 Mac Mahon, đây là nhà ở và văn phòng luật sư của ông Trường do ba tôi thuê của một người bạn Pháp.

… Việc nào cũng quan trọng nhưng việc ông Mai Văn Ngọc bán nhà dọn về ở xóm Dầu Mỹ Tho là quan trọng hơn cả. Điều đó thôi thúc ba tôi nhiều hơn.

Mỗi lần ông Ngọc lên nhà ba tôi, xách va li nhỏ ở lại vài ngày nói với hàng xóm là già rồi, thích lên miệt vườn đổi gió còn nói với con cái của ông: “Cha thích cá trê nướng chấm mắm nêm có gừng của bà Ninh”. Còn mỗi lần xuống nhà ông Ngọc, ba tôi và chú Hùm đều phải cải trang, lúc là mật thám lúc là hướng đạo, lúc là thương buôn lúc là thầy bói, vì mỗi lần đi phải ngồi xe lửa gần 3 tiếng đồng hồ dễ bị mật thám theo dõi. Ngày đó mật thám phần lớn là Tây mật thám Việt Nam ít hơn mà ngó cũng dễ biết bắn vì vậy mỗi lần xuống cũng phải ở vài ba ngày bàn cho xong vấn đề nào dứt điểm vấn đề đó mới ra về.

… (Sau khi Nguyễn An Ninh bị bắt vô tù, ngày 7 tháng 1 năm 1927 có lệnh thả).

Sau đó ba tôi lao ngay vào công việc, ba tôi cùng chú Hùm cải trang ăn mặc như mật thám đi Mỹ Tho… Hai người ở lại nhà ông Ngọc hai ngày:

- Tôi vừa mới ở tù ra mật thám theo sát quá, ở đây lâu sợ tụi nó mò tới. Ông Ngọc và chú Hùm không được lộ nhất là ngôi nhà này ông Ngọc mới về ít lâu bọn nó chưa biết. Bữa nay nó còn rình quanh đây, chiều ngày mai tôi và Hùm phải đi. Công việc vừa qua ông Ngọc và Hùm nhận định ra sao?

- Ngày mình bị bắt cũng là ngày Hùm xuống nhà tôi trao lại ý kiến của Ninh, chúng tôi nằm im gần hai tháng trời. Sau đó thấy chúng chả hay biết gì về việc mình bàn nên chúng tôi tranh thủ thời cơ chúng đang quan tâm việc của Ninh ở Sài Gòn, làm tiếp công việc dưới này, chỉ quanh quẩn vùng lân cận. Tôi làm vùng chợ Gạo và lan rộng ở Mỹ Tho. Hùm cùng Tân Uyên lan ra Thủ Dầu Một.

Phan Văn Hùm - con rể của cụ Mai Văn Ngọc (Anh TL)
Chú Hùm nói tiếp:

- Như vậy cộng cả đầu mối trước kia Hùm và Ninh đi thì mình có trên trăm đầu mối rồi.

Đầu mối đây là số cốt cán mà ba tôi, bác Ngọc và chú Hùm đã tuyển kết nạp vào Thanh niên Cao Vọng. Số này là số cụm trưởng và chi trưởng, toàn là số anh em có trình độ văn hóa, có khả năng tiếp thu những điều giảng giải của ba ông và có khả năng truyền đạt lại cho anh em cấp tổ trưởng. Cụm phạm vi có khi chỉ trong một huyện, có khi hai, ba huyện gộp lại tùy tình hình dân cư. Theo ba tôi kể lại cho má tôi:

“Tổ chức Thanh niên Cao Vọng này không phải đảng phái gì đâu, chỉ là tổ chức quần chúng mình tập hợp lại rồi chỉ dẫn cho anh em hiểu biết và làm. Khi nào cách mạng cần thì có sẵn quần chúng mình tập hợp, mà quần chúng này mình đã chọn lọc rồi. Trước đây họ chỉ là đánh thức lòng yêu nước của họ, bây giờ phải tổ chức họ lại chứ nếu không thì quần chúng giác ngộ và không có người để hướng dẫn họ làm thì cũng uổng công sức mình bấy lâu. Số quần chúng này rồi sẽ giới thiệu cho Đảng Cộng sản. Vì vậy mà tổ chức này chỉ đến cụm thôi, không có cấp tỉnh, không có cấp trung ương.

Đêm đó ba ông bàn kế hoạch tổ chức cúng giáp năm cụ Phan Châu Trinh. Sẽ triệu tập một cuộc họp cốt cán để nắm số lượng các chi và tổ, thống nhất ngày tổ chức lễ cúng và lộ trình đó của các cụm đến nơi tập trung ở nghĩa địa Gò Công Tân Sơn Nhất. Cuộc họp này tổ chức tại chùa Vĩnh Tràng. Đó là một ngôi chùa lớn, đẹp, cách thị xã Mỹ Tho không xa. Sư cụ chủ trì là người yêu nước, hết lòng ủng hộ cách mạng. Ông Ngọc và chú Hùm thông báo cho số cốt cán mới tổ chức, còn ba tôi sẽ thông báo cho số cốt cán đã kết nạp cuối năm 1925 và đầu năm 1926.

… Sáng ngày 14-3-1927 hàng trăm ngàn người từ các ngả đổ về thành phố lặng lẽ trang nghiêm tiến về Tân Sơn Nhất. Đồng bào thành phố cũng kéo theo, có cả đồng bào lục tỉnh biết được cũng kéo lên từng đoàn, mang theo cả gạo đi ăn đường. Khí thế nhân dân hừng hực nhưng họ rất trật tự, không có lý do gì để ngăn cản họ. Buổi lễ cũng diễn ra trang nghiêm đúng theo kế hoạch. Đồng bào phấn khởi, anh em hả hê, lần đầu tiên tổ chức một cuộc tuần hành lớn như vậy mà đạt kết quả ngoài mong muốn.

Xong lễ tất cả lên nhà ở Hốc Môn, lúc tôi đã bố trí người nhà chuẩn bị cơm nước cho anh em cốt cán lúc lên họp rút kinh nghiệm. Người vui mừng nhất là ba tôi, sau khi ở tù ra ba tôi chỉ lo sợ phong trào bị lắng xuống, không ngờ quần chúng vẫn hăng hái, và lực lượng Thanh niên Cao Vọng thì lớn mạnh.

Trước khi Nguyễn An Ninh đi Pháp tháng 8-1927, Ba tôi nói với ông Ngọc:

- Tôi sang Pháp nhờ bạn bè hỗ trợ phong trào Đông Dương và giải quyết giùm anh Truyền khó khăn trong cuộc sống. Hơn nữa tôi rất nóng lòng về tin tức của anh Quốc. Qua thư từ anh Truyền tôi hiểu giữa hai người đã gián đoạn liên lạc . Mọi việc ở nhà Ngọc, Hùm chỉ làm tại chỗ, không đi lại khi không cần thiết. Anh em cần tìm hiểu về tổ chức thì Ngọc huấn luyện. Các bạn nhỏ viết báo thay đổi nhiều bút danh càng tốt để nó không lần ra”.

Trước khi Nguyễn An Ninh đi xuống miền Tây cuối năm 1927. Trước ngày lên đường bọn tôi được tin thân sinh ông Mai Văn Ngọc đau nặng. Cụ là cha nuôi của ông Ngọc từ thuở nhỏ, cha ruột đã bị triều đình giết vì tham gia phong trào Cần Vương, mẹ ông bế con chạy thoát và cho cụ Mai làm con nuôi. Cụ Mai sau đó cũng bỏ quê đến cư ngụ ở chợ Gạo Mỹ Tho.

Ba tôi và chú Hùm ghé lại Mỹ Tho thăm ông cụ ông Ngọc và hai người con là Mai Huỳnh Hoa và Mai Văn Huy thay phiên túc trực bên giường bệnh không biết cụ còn sống được bao lâu. Ba tôi đành cáo lỗi về chuyến đi xa không chắc quay về kịp với hai con ngựa sắt. Ba tôi và chú Hùm bắt đầu rong ruổi.

Sau khi Nguyễn An Ninh làm đơn xin với Sở Cảnh sát Nam kỳ cho phép ra Bắc lấy cớ thăm Nguyễn Thế Truyền đòi lại số tiền một ngàn đồng đã cho Truyền mượn để ra Bắc một cách hợp pháp nhằm tìm cách bắt liên lạc với bạn bè ở Bắc và Trung.

… “Đang nóng ruột chờ đợi kết quả của đơn xin thì khoảng đầu tháng 12-1931vào một buổi sáng, cô Mai Huỳnh Hoa đến tìm ba tôi, ba tôi sửng sốt:

- Ngọc Chi sao biết chú Ninh ở đây, bộ lên tìm chú ở Hóc Môn rồi hả? Chú Ninh ra tù lần này bận quá chưa xuống thăm ba cháu. Ba cháu có mạnh không? Sao ba cháu không lên thăm chú?

Ngọc Chi là tên gọi trong gia đình của cô Huỳnh Hoa, nghe ba tôi hỏi, mắt cổ đỏ hoe:

- Thưa chú, cha cháu vừa bị bắt trước khi chú ra tù. Từ ngày chú bị bắt anh Hùm cũng sang Pháp, nhà cha cháu anh em đến đông lắm nên tụi mật thám chú ý.
Hôm bắt cha cháu không có cháu ở nhà, tụi nó cũng hỏi thăm cháu nên cháu phải trốn.

- Tụi nó bắt cha cháu về tội gì, còn cháu cũng tham gia hoạt động rồi hả?

- Dạ cháu mới tham gia phong trào học sinh. Còn hôm bắt cha cháu cháu có nghe kế mẫu kể lại, tụi nó nói cha cháu là cộng sản.

- Ba cháu vào Đảng rồi hả? Bây giờ cháu ở đâu?

- Cháu đang ở Sài Gòn, ở nhà người bà con. Biết cha cháu đang ngồi khám lớn mà không vào thăm được, mấy tháng nay cháu toàn ở trong nhà, không dám đi đâu.

- Để chú Ninh thăm cho. Cháu cũng nên thận trọng, đi đâu phải cải trang giấu bớt cái mặt đi. Có gì khó khăn cho chú Ninh biết, đừng khóc một mình, làm cách mạng phải cứng rắn mới được.

… Ông Mai Văn Ngọc bị bắt không có bằng chứng, ông không nhận là đảng viên cộng sản nên đầu năm 1932 ông được thả ra. Ông có lên Hốc Môn tìm ba tôi nhưng không gặp chỉ gặp má tôi, rồi ông về Mỹ Tho.

Ra tù chưa bao lâu ông Ngọc cùng một số anh em trở sang Xiêm. Trên đường đi đến Paksé thì bị phục kích bắn chết. Anh em chôn xác ông tại đó, mãi năm sau gia đình mới biết tin và ba tôi mới hay.

… Sau này khi chú Phan Văn Hùm đi học bên Pháp về, cưới cô Mai Huỳnh Hoa thì chú Hùm có lên Paksé tìm mộ ông để bốc cốt đem về Mỹ Tho nhưng không tìm được mộ”.
 
Nhân đây nói vài nét về bà Mai Huỳnh Hoa (1910-1987), đẹp cao sang thanh thoát, có tài văn chương, bạn thân của nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội (vợ nhà thơ Ðông Hồ). Bà là cây viết rất nổi tiếng trên các tạp chí, đặc san Sài Gòn thuộc thập niên 40-50. Bà có tinh thần yêu nước rất cao, hợp tác với Bà Nguyễn An Ninh để hết lòng giúp đỡ chồng con trên đường đấu tranh cho đại nghĩa dân tộc. Bà mất ngày 25-7-1987 tại Sài Gòn. Con của bà và Phan Văn Hùm tên là Phan Tùng Nguyên, bút hiệu Phan Tùng Mai, kịch tác gia có hai vở kịch danh tiếng là Chuyện Người Buôn MộngKẻ Giết Tần Cối.                                                                    
Hoài Anh-Nguyễn Tý
Ý KIẾN CỦA BẠN:
Vui lòng viết chữ tiếng Việt có dấu, cảm ơn.
Họ tên:
  
Email:
 
Tiêu đề
Nội dung :
Mã xác thực :
77734
 
CÁC BÀI MỚI :  
Britney được đề cử tại Video Music Awards 2008   (Thứ ba 19/08/2008, 21:28)
Lee Dong Gun ra mắt album mới   (Thứ ba 19/08/2008, 21:28)
Daniel Radcliffe lại gây sốc   (Thứ ba 19/08/2008, 21:28)
“Kế hoạch gia đình hạnh phúc” lẽ ra có thể hay hơn   (Thứ ba 19/08/2008, 21:28)
Cuộc đời công nương Diana lên phim   (Thứ ba 19/08/2008, 21:28)
CÁC BÀI TIẾP THEO :  
Live show Tiếng cười Hoài Linh  (Thứ ba 24/04/2007, 16:41)
Diễn viên quá cố Shelly đoạt giải trong liên hoan phim  (Thứ ba 24/04/2007, 15:53)
Bán chiếc ghita của U2 gây quỹ 2,4 triệu đôla  (Thứ ba 24/04/2007, 15:52)
Oliver Stone với chương trình chống chiến tranh mới  (Thứ ba 24/04/2007, 15:52)
Vương Phi quay trở lại làng giải trí  (Thứ ba 24/04/2007, 15:52)
 
 
 
DÀNH CHO QUẢNG CÁO
 
     
  Trang chủ   Liên hệ   Sơ đồ website